PHÂN BIỆT CHẤM DỨT VÀ HỦY BỎ HIỆU LỰC VĂN BẰNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU

15/09/2026
SỞ HỮU TRÍ TUỆ

     Trong thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu, chấm dứt hiệu lựchủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu thường bị nhầm lẫn vì đều có thể dẫn đến việc quyền đối với nhãn hiệu không còn được bảo hộ.

Tuy nhiên, đây là hai cơ chế pháp lý hoàn toàn khác nhau.

     Điểm khác biệt quan trọng nhất nằm ở thời điểm phát sinh căn cứ làm mất hiệu lực. Với chấm dứt hiệu lực, quyền đối với nhãn hiệu về nguyên tắc đã được xác lập hợp pháp nhưng sau đó xuất hiện sự kiện làm quyền không còn được tiếp tục duy trì. Trong khi đó, hủy bỏ hiệu lực thường đặt ra vấn đề rằng quyền đó đáng lẽ không nên được xác lập ngay từ đầu, chẳng hạn vì người nộp đơn không có quyền đăng ký, đăng ký với dụng ý xấu hoặc nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện bảo hộ tại thời điểm được cấp văn bằng.

     Việc phân biệt đúng hai cơ chế này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi doanh nghiệp cần xử lý một nhãn hiệu đối chứng, tranh chấp quyền sở hữu thương hiệu hoặc bảo vệ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu trước yêu cầu của bên thứ ba.

CHẤM DỨT VÀ HỦY BỎ HIỆU LỰC GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU

CHẤM DỨT

1. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là gì?

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, ghi nhận quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam.

Giấy chứng nhận có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể được gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm, đối với toàn bộ hoặc một phần danh mục hàng hóa, dịch vụ.

Việc được cấp Giấy chứng nhận tạo cơ sở pháp lý để chủ sở hữu khai thác, chuyển giao và thực thi quyền đối với nhãn hiệu. Tuy nhiên, hiệu lực của văn bằng vẫn có thể bị chấm dứt hoặc hủy bỏ khi xuất hiện những căn cứ luật định.

2. Chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là gì?

Có thể hiểu chấm dứt hiệu lực là việc một quyền đối với nhãn hiệu đã được xác lập hợp pháp nhưng không còn tiếp tục có hiệu lực kể từ một thời điểm nhất định do xuất hiện căn cứ pháp luật trong quá trình tồn tại của quyền.

Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ quy định nhiều trường hợp dẫn đến chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ. Đối với nhãn hiệu, các trường hợp quan trọng bao gồm:

- Chủ sở hữu không thực hiện thủ tục gia hạn hiệu lực theo quy định;

- Chủ sở hữu tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp;

- Chủ sở hữu không còn tồn tại hoặc không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp;

- Nhãn hiệu không được sử dụng trong 05 năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt mà không có lý do chính đáng;

- Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc kiểm soát không hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng;

- Chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng hoặc không kiểm soát hiệu quả việc sử dụng;

- Việc sử dụng nhãn hiệu làm người tiêu dùng hiểu sai về bản chất, chất lượng hoặc nguồn ốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ;

- Nhãn hiệu trở thành tên gọi thông thường của chính hàng hóa hoặc dịch vụ đã đăng ký.

Trong đó, chấm dứt hiệu lực do không sử dụng nhãn hiệu trong 05 năm liên tục là căn cứ thường gặp nhất trong các vụ việc mà doanh nghiệp muốn loại bỏ một nhãn hiệu đăng ký trước đang cản trở đơn đăng ký mới.

3. Hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là gì?

Khác với chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực tập trung vào những khiếm khuyết tồn tại ngay trong quá trình xác lập quyền.

Nói cách khác, vấn đề cần xem xét là: nếu các thông tin và căn cứ pháp lý được đánh giá đầy đủ tại thời điểm xét đơn, nhãn hiệu có đáng lẽ được cấp văn bằng hay không?

Theo Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, đối với nhãn hiệu, các căn cứ đáng chú ý bao gồm:

- Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;

- Người nộp đơn không có quyền đăng ký và không được người có quyền đăng ký chuyển nhượng quyền đăng ký;

- Nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng;

- Các trường hợp khác thuộc Điều 96 nếu có liên quan đến điều kiện hợp pháp của việc xác lập quyền.

Đáng chú ý, pháp luật hiện hành đã ghi nhận rõ đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu là một căn cứ độc lập để hủy bỏ hiệu lực.

Theo hướng dẫn tại Thông tư 23/2023/TT-BKHCN, yếu tố dụng ý xấu có thể được xem xét khi người nộp đơn biết hoặc có cơ sở để biết về một nhãn hiệu đang được sử dụng rộng rãi hoặc nổi tiếng, nhưng vẫn tiến hành đăng ký nhằm lợi dụng uy tín, bán lại quyền, ngăn cản chủ thể thực sự gia nhập thị trường hoặc thực hiện những hành vi trái với tập quán thương mại lành mạnh.

Đây là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng để xử lý tình trạng đăng ký chiếm giữ nhãn hiệu (trademark squatting) tại Việt Nam.

4. Điểm khác biệt cốt lõi: “quyền mất đi về sau” và “quyền không nên tồn tại từ đầu”

Có thể hình dung sự khác biệt bằng một nguyên tắc tương đối đơn giản:

Chấm dứt hiệu lực: quyền được xác lập hợp pháp, nhưng sau đó xuất hiện căn cứ làm quyền không thể tiếp tục tồn tại.

Hủy bỏ hiệu lực: việc xác lập quyền ngay từ đầu có khiếm khuyết hoặc không đáp ứng điều kiện pháp luật.

Ví dụ, một nhãn hiệu được đăng ký hợp pháp năm 2020 nhưng không được sử dụng liên tục trong thời gian luật định có thể trở thành đối tượng của yêu cầu chấm dứt hiệu lực do không sử dụng.

Ngược lại, nếu người nộp đơn năm 2020 thực tế không có quyền đăng ký nhãn hiệu, hoặc cố ý đăng ký thương hiệu của một doanh nghiệp khác với dụng ý xấu, biện pháp phù hợp có thể là yêu cầu hủy bỏ hiệu lực.

5. Bảng so sánh chấm dứt và hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu

Tiêu chí

Chấm dứt hiệu lực

Hủy bỏ hiệu lực

Bản chất pháp lý

Quyền được xác lập hợp pháp nhưng sau đó phát sinh căn cứ làm quyền không tiếp tục tồn tại

Việc xác lập quyền có khiếm khuyết ngay từ đầu

Thời điểm phát sinh căn cứ

Chủ yếu phát sinh sau khi quyền đã được xác lập

Chủ yếu tồn tại tại thời điểm nộp đơn hoặc cấp văn bằng

Ví dụ điển hình

Không sử dụng nhãn hiệu 05 năm; không gia hạn; từ bỏ quyền; chủ sở hữu không còn tồn tại

Đăng ký với dụng ý xấu; không có quyền đăng ký; nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện bảo hộ

Trọng tâm xem xét

Sự kiện xảy ra trong quá trình duy trì và sử dụng nhãn hiệu

Tính hợp pháp của việc cấp văn bằng ngay từ đầu

Phạm vi xử lý

Có thể toàn bộ hoặc một phần

Có thể toàn bộ hoặc một phần tùy căn cứ

Chiến lược thường gặp

Loại bỏ nhãn hiệu đối chứng không còn được sử dụng

Loại bỏ nhãn hiệu được đăng ký không hợp pháp hoặc với dụng ý xấu

Chứng cứ trọng tâm

Chứng cứ về sử dụng hoặc không sử dụng, tình trạng hoạt động của chủ sở hữu, việc quản lý nhãn hiệu

Chứng cứ về quyền đăng ký, nguồn gốc thương hiệu, quá trình sử dụng trước, quan hệ giữa các bên, khả năng phân biệt, dụng ý xấu

Khác nhau về thời hiệu yêu cầu

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi lựa chọn chiến lược xử lý nhãn hiệu.


Đối với chấm dứt hiệu lực

Không có một thời hiệu chung 05 năm tương tự cơ chế hủy bỏ nhãn hiệu. Khi căn cứ chấm dứt phát sinh và đáp ứng điều kiện luật định, chủ thể có quyền có thể cân nhắc thực hiện yêu cầu.

Tuy nhiên, từng căn cứ có điều kiện riêng. Chẳng hạn, đối với yêu cầu chấm dứt do không sử dụng, phải chứng minh nhãn hiệu không được sử dụng trong 05 năm liên tục trước ngày nộp yêu cầu, đồng thời phải xem xét các ngoại lệ liên quan đến việc bắt đầu hoặc bắt đầu lại việc sử dụng.


Đối với hủy bỏ hiệu lực

Pháp luật quy định thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực là suốt thời hạn bảo hộ, nhưng đối với một số căn cứ hủy bỏ nhãn hiệu, thời hiệu được giới hạn 05 năm kể từ ngày cấp văn bằng hoặc từ ngày đăng ký quốc tế có hiệu lực tại Việt Nam, theo quy định cụ thể tại Điều 96.

Do đó, không nên áp dụng máy móc nguyên tắc “mọi yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu đều chỉ được thực hiện trong 05 năm”. Cần xác định chính xác căn cứ hủy bỏ nào đang được sử dụng để đánh giá thời hiệu tương ứng.

Đặc biệt, đối với các trường hợp liên quan đến dụng ý xấu, việc phân tích thời hiệu cần được thực hiện riêng theo quy định hiện hành thay vì áp dụng cách hiểu từ các phiên bản pháp luật trước đây.

Khác nhau về hậu quả pháp lý

Đây là điểm có ý nghĩa rất lớn trong tranh chấp.


Chấm dứt hiệu lực

Về bản chất, Giấy chứng nhận đã có hiệu lực hợp pháp trong một khoảng thời gian trước khi căn cứ chấm dứt phát sinh.

Do đó, cần xác định thời điểm chấm dứt hiệu lực cụ thể theo từng căn cứ được quy định tại Điều 95 để đánh giá quyền của chủ sở hữu đối với các hành vi xảy ra trước và sau thời điểm này.

Không thể mặc nhiên coi toàn bộ quá trình tồn tại trước đó của nhãn hiệu là không hợp pháp chỉ vì văn bằng sau này bị chấm dứt.


Hủy bỏ hiệu lực

Hủy bỏ có tác động sâu hơn vì đặt lại vấn đề về tính hợp pháp của chính việc xác lập quyền.

Khi văn bằng bị hủy bỏ, phạm vi quyền sở hữu công nghiệp dựa trên phần văn bằng bị hủy sẽ không còn cơ sở bảo hộ.

Tuy nhiên, cần thận trọng với kết luận rằng mọi hợp đồng chuyển nhượng hoặc li-xăng đã ký trong quá khứ tự động vô hiệu hoàn toàn. Hậu quả đối với từng giao dịch còn phụ thuộc vào loại hợp đồng, thời điểm giao kết, nội dung thỏa thuận, mức độ thực hiện và các quy định pháp luật dân sự, thương mại có liên quan.

Do đó, trong một vụ việc cụ thể, hậu quả của việc hủy bỏ văn bằng cần được đánh giá riêng thay vì suy luận đơn giản rằng mọi giao dịch trước đó đều mặc nhiên vô hiệu.

Ví dụ về chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu

Công ty A sở hữu nhãn hiệu “ABC” đã được đăng ký hợp pháp cho một nhóm sản phẩm.

Sau một thời gian, Công ty A ngừng kinh doanh sản phẩm này và nhãn hiệu không được sử dụng trong nhiều năm.

Công ty B sau đó nộp đơn đăng ký một nhãn hiệu mới nhưng bị nhãn hiệu “ABC” của Công ty A cản trở.

Nếu điều tra cho thấy nhãn hiệu “ABC” không được chủ sở hữu hoặc người được phép sử dụng trong 05 năm liên tục trước ngày nộp yêu cầu và không thuộc trường hợp ngoại lệ, Công ty B có thể cân nhắc yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ chấm dứt hiệu lực đăng ký của Công ty A.

Trong tình huống này, vấn đề không nằm ở việc nhãn hiệu “ABC” có được đăng ký hợp pháp ban đầu hay không. Vấn đề là quyền đã được xác lập nhưng không được tiếp tục sử dụng theo yêu cầu của pháp luật.

Ví dụ về hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu do không có quyền đăng ký

Công ty A đã sử dụng một dấu hiệu làm thương hiệu trong hoạt động kinh doanh và có tài liệu thể hiện quá trình hình thành, phát triển thương hiệu.

Trong quá trình hợp tác, Công ty B biết rõ thương hiệu này nhưng lại đứng tên nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam mà không được Công ty A cho phép hoặc chuyển giao quyền đăng ký.


Nếu có đầy đủ căn cứ chứng minh Công ty B không có quyền đăng ký theo quy định, Công ty A có thể cân nhắc yêu cầu hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đã được cấp cho Công ty B.

Trong trường hợp này, trọng tâm không phải là việc Công ty B có sử dụng nhãn hiệu sau khi đăng ký hay không, mà là Công ty B có quyền đứng tên đăng ký ngay từ đầu hay không.


Ví dụ về hủy bỏ nhãn hiệu đăng ký với dụng ý xấu

Công ty X sở hữu một thương hiệu đã được sử dụng rộng rãi tại một thị trường nước ngoài và đang chuẩn bị mở rộng hoạt động vào Việt Nam.

Một nhà phân phối hoặc đối tác tại Việt Nam biết rõ thương hiệu này nhưng chủ động đăng ký nhãn hiệu dưới tên mình nhằm yêu cầu Công ty X mua lại, ký hợp đồng phân phối độc quyền hoặc ngăn cản Công ty X gia nhập thị trường.

Nếu chứng cứ cho thấy tại thời điểm nộp đơn, người đăng ký biết hoặc có cơ sở để biết về thương hiệu trước đó và việc đăng ký nhằm mục đích lợi dụng uy tín, bán lại, ngăn cản chủ thể thực sự hoặc thực hiện hành vi trái với tập quán thương mại lành mạnh, đây có thể là căn cứ để yêu cầu hủy bỏ hiệu lực do đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu.

6. Thủ tục chấm dứt và hủy bỏ hiệu lực có giống nhau không?

Hai thủ tục có một số điểm tương đồng về hình thức nhưng nội dung thẩm định rất khác nhau.

Theo Nghị định 65/2023/NĐ-CP, hồ sơ yêu cầu có thể bao gồm:

- Tờ khai yêu cầu chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ;

- Bản giải trình lý do và căn cứ pháp luật;

- Chứng cứ kèm theo;

- Văn bản ủy quyền nếu nộp thông qua đại diện;

- Các tài liệu liên quan khác theo từng vụ việc.

Đối với yêu cầu của người thứ ba, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ thông báo cho chủ văn bằng để họ có cơ hội trình bày ý kiến. Cơ quan xử lý có thể xem xét lập luận và chứng cứ của cả hai bên trước khi quyết định chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu. Riêng yêu cầu hủy bỏ còn có đặc điểm quan trọng là Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành thẩm định lại nội dung tương ứng của đơn đăng ký.

Vì vậy, dù sử dụng một số biểu mẫu và trình tự tương tự, chiến lược lập luận trong hai thủ tục không giống nhau.

7. Khi nào nên yêu cầu chấm dứt, khi nào nên yêu cầu hủy bỏ?

Việc lựa chọn đúng cơ chế có thể quyết định đáng kể khả năng thành công của vụ việc.

Nên cân nhắc chấm dứt hiệu lực khi:

- Nhãn hiệu đối chứng đã không được sử dụng trong thời gian dài;

- Chủ sở hữu không còn tồn tại và không có người kế thừa;

- Nhãn hiệu trở thành tên gọi thông thường;

- Việc sử dụng nhãn hiệu gây hiểu sai cho người tiêu dùng;

- Có các căn cứ khác phát sinh trong quá trình duy trì quyền theo Điều 95.

Nên cân nhắc hủy bỏ hiệu lực khi:

- Người được cấp văn bằng không có quyền đăng ký nhãn hiệu;

- Có dấu hiệu đăng ký chiếm giữ thương hiệu của người khác;

- Việc đăng ký được thực hiện với dụng ý xấu;

- Nhãn hiệu ngay tại thời điểm cấp văn bằng đã không đáp ứng điều kiện bảo hộ;

- Có căn cứ cho rằng quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập không đúng quy định.

Trong một số vụ việc, cả hai nhóm căn cứ có thể đồng thời xuất hiện.

Ví dụ, một nhãn hiệu có thể vừa được đăng ký bởi người không có quyền, vừa không được sử dụng trong hơn 05 năm. Khi đó, cần đánh giá chứng cứ và mục tiêu của khách hàng để quyết định yêu cầu hủy bỏ, chấm dứt hoặc xây dựng chiến lược kết hợp phù hợp.

8. Chứng cứ quyết định phần lớn khả năng thành công

Trong thực tiễn, việc viện dẫn đúng Điều 95 hoặc Điều 96 mới chỉ là bước đầu. Khả năng thành công thường phụ thuộc vào cách chứng minh các sự kiện thực tế.

Đối với chấm dứt do không sử dụng, hồ sơ có thể cần kết hợp nhiều nguồn thông tin như:

- Khảo sát thị trường;

- Website của chủ sở hữu;

- Sàn thương mại điện tử;

- Hệ thống phân phối;

- Hoạt động quảng cáo;

- Dữ liệu doanh nghiệp;

- Catalogue, sản phẩm, cửa hàng và các nguồn thương mại liên quan.

Đối với hủy bỏ do không có quyền đăng ký hoặc dụng ý xấu, chứng cứ có thể bao gồm:

- Chứng cứ sử dụng thương hiệu trước ngày nộp đơn;

- Email, hợp đồng hoặc tài liệu về quan hệ giữa các bên;

- Hồ sơ đại lý, phân phối hoặc hợp tác;

- Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu tại nước ngoài;

- Tài liệu chứng minh danh tiếng của thương hiệu;

- Chứng cứ cho thấy người nộp đơn biết về thương hiệu trước;

- Các hành vi sau khi đăng ký như yêu cầu bán lại nhãn hiệu, ép ký hợp đồng hoặc cản trở chủ sở hữu thực sự.

Đặc biệt với dụng ý xấu, thông thường không thể chỉ dựa vào một tài liệu đơn lẻ. Cần xây dựng một chuỗi chứng cứ cho thấy sự nhận biết trước và mục đích không trung thực của người nộp đơn.

9. Một nhãn hiệu đối chứng cản trở đơn đăng ký mới thì nên xử lý thế nào?

Khi một đơn nhãn hiệu bị Cục Sở hữu trí tuệ dự định từ chối do tồn tại nhãn hiệu đối chứng, doanh nghiệp không nhất thiết chỉ có một lựa chọn là thay đổi thương hiệu.

Tùy từng trường hợp, có thể xem xét:

- Lập luận rằng hai nhãn hiệu không tương tự đến mức gây nhầm lẫn;

- Giới hạn hoặc điều chỉnh danh mục hàng hóa, dịch vụ;

- Yêu cầu chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu đối chứng do không sử dụng;

- Yêu cầu hủy bỏ hiệu lực nếu chủ văn bằng không có quyền đăng ký;

- Yêu cầu hủy bỏ do đăng ký với dụng ý xấu;

- Đàm phán chuyển nhượng, đồng tồn tại hoặc giải pháp thương mại khác;

- Kết hợp nhiều biện pháp pháp lý theo trình tự phù hợp.

Việc lựa chọn phương án cần được thực hiện sau khi kiểm tra tình trạng pháp lý, lịch sử đăng ký, tình trạng sử dụng, quan hệ giữa các bên và chất lượng chứng cứ.

10. A.D.V.N hỗ trợ xử lý chấm dứt và hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu

Các vụ việc chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực thường phức tạp hơn một thủ tục đăng ký nhãn hiệu thông thường bởi tranh chấp không chỉ liên quan đến quy định pháp luật mà còn phụ thuộc lớn vào chứng cứ thực tế.

A.D.V.N hỗ trợ khách hàng trong các công việc như:

- Đánh giá tình trạng pháp lý của nhãn hiệu và văn bằng đối chứng;

- Phân tích nên áp dụng cơ chế chấm dứt hay hủy bỏ hiệu lực;

- Tra cứu và điều tra tình trạng sử dụng nhãn hiệu;

- Đánh giá căn cứ đăng ký với dụng ý xấu;

- Xây dựng chiến lược chứng cứ;

- Soạn bản giải trình và lập luận pháp lý;

- Đại diện khách hàng trong quá trình xử lý tại Cục Sở hữu trí tuệ;

- Phản hồi lập luận và chứng cứ của bên còn lại;

- Kết hợp thủ tục chấm dứt hoặc hủy bỏ với việc phản hồi Thông báo dự định từ chối đơn nhãn hiệu;

- Tư vấn chiến lược đăng ký, khai thác và bảo vệ thương hiệu sau khi xử lý quyền đối chứng.

11. Câu hỏi thường gặp

Chấm dứt hiệu lực và hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu có giống nhau không?

Không. Chấm dứt thường liên quan đến sự kiện phát sinh sau khi quyền đã được xác lập hợp pháp. Hủy bỏ tập trung vào những khiếm khuyết của việc xác lập quyền ngay từ đầu.

Nhãn hiệu không sử dụng 5 năm thì nên yêu cầu chấm dứt hay hủy bỏ?

Thông thường, nếu đáp ứng điều kiện về không sử dụng trong 05 năm liên tục, biện pháp tương ứng là yêu cầu chấm dứt hiệu lực theo Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ.

Đăng ký nhãn hiệu của người khác với dụng ý xấu có thể bị hủy bỏ không?

Có. Đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu là một căn cứ hủy bỏ hiệu lực theo quy định hiện hành.

Có thể hủy bỏ hoặc chấm dứt một phần danh mục hàng hóa, dịch vụ không?

Có thể, tùy căn cứ và phạm vi quyền bị ảnh hưởng. Trong thực tiễn, việc xác định chính xác phạm vi yêu cầu rất quan trọng để tránh yêu cầu quá rộng và khó chứng minh.

Khi văn bằng bị hủy bỏ thì mọi hợp đồng liên quan trước đó có tự động vô hiệu không?

Không nên kết luận như vậy một cách máy móc. Việc hủy bỏ văn bằng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở tồn tại của quyền sở hữu công nghiệp, nhưng hậu quả đối với từng hợp đồng còn phải xem xét theo nội dung giao dịch và pháp luật có liên quan.

Kết luận

Có thể tóm tắt sự khác biệt bằng hai câu hỏi:

Chấm dứt hiệu lực: Sau khi được cấp hợp pháp, có sự kiện nào làm quyền đối với nhãn hiệu không còn được tiếp tục duy trì hay không?

Hủy bỏ hiệu lực: Ngay từ đầu, nhãn hiệu này có đáng lẽ được cấp cho chủ văn bằng hay không?

Việc đặt đúng câu hỏi sẽ giúp xác định đúng cơ chế pháp lý, loại chứng cứ cần thu thập và chiến lược xử lý.

Đối với các vụ việc mà một nhãn hiệu đăng ký trước đang cản trở hoạt động kinh doanh hoặc đơn đăng ký mới, doanh nghiệp nên đánh giá đồng thời tình trạng sử dụng nhãn hiệu, quyền đăng ký ban đầu, điều kiện bảo hộ và khả năng tồn tại dụng ý xấu, thay vì chỉ lựa chọn chấm dứt hoặc hủy bỏ dựa trên tên gọi của thủ tục.ĐĂNG KÝ

CÔNG TY LUẬT TNHH  A.D.V.N

 Liên hệ ngay để được đánh giá hồ sơ và đề xuất phương án xử lý tối ưu

- Địa chỉ: F2&F3, số 2 Phùng Khắc Khoan, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh  

- Điện thoại: 0903.693.301 – 0909.393.329  

- Email: advnlaw@gmail.com
- Website: advnlaw.vn

Chia sẻ